Cùng em bước tiếp… anh nhé!

Sáng sớm ngày 20 tháng 10, tiếng chuông báo thức 04h45 của Đại chủng viện (ĐCV) reo lên, tôi thức dậy sau một ngày tham dự thánh lễ an táng của anh và đưa anh đến vườn thánh của Giáo xứ trong bầu khí trang nghiêm, sốt sáng và không thiếu những giọt nước mắt của những người thương mến anh. Tôi bật công tắc điện trong phòng. Tôi thầm tạ ơn Chúa đã cho tôi thức dậy trong bình an, nhưng ngay sau đó, tâm trí tôi lại ngập tràn hình ảnh về anh và nỗi nhớ anh cứ thế ùa về với tôi. Tôi lặng người bước đi đánh răng rửa mặt, tôi không khóc, nhưng những bước chân của tôi giờ đây sao lại nặng trĩu đến vậy?…sau khoảng 10 phút, tôi trở về phòng, tôi chuẩn bị một chút và lấy áo sutan để mặc và lên nhà nguyện. Khi mặc chiếc áo, tôi thầm hỏi anh là: “Anh giờ này sao rồi? và như bình thường thì lúc này anh cũng chuẩn bị lên nhà nguyện rồi đúng không?”… Lững thững đi lên nhà nguyện, bước từng bước cầu thang, tôi vừa đi vừa cúi đầu nhìn từng bước chân nặng trĩu lúc này. Tôi chẳng biết mọi thứ xung quanh ra sao vì nỗi nhớ anh cứ dâng trào trong tôi. Khi tới nhà cửa nhà nguyện, mở cửa ra như mọi ngày, tôi cúi mình chào Chúa. Sau đó, tôi ngước mắt nhìn lên cây Thập Giá mà hằng ngày tôi vẫn ngắm nhìn. Vậy mà sao, hôm nay, cây Thập Giá ấy lại nặng đến vậy. Nặng đến nỗi, tôi muốn khóc để vơi đi phần nào những gì đang diễn ra trong tôi.

Bước tiếp để lên tới hàng ghế của tôi, tôi nhìn vào chỗ ngồi của anh vẫn hay ngồi nhưng tôi hiểu rằng anh chỉ hiện diện thiêng liêng ở đó thôi, còn thể lý của anh đã mãi rời xa anh em chúng tôi và mọi người. Tới chỗ ngồi, tôi quỳ xuống. Đúng hơn, tôi đã trút tất cả sức nặng của thân xác và tâm trí lên đôi đầu gối để mong sao tôi nhẹ lòng một chút. Làm dấu thánh giá và đọc kinh dâng ngày lên Chúa, tôi tạ ơn Chúa đã ban cho tôi sự bình an của Ngài để tiếp tục được ở đây và trong ngôi nhà nguyện thân thương này. Nhưng tôi không dám hỏi Chúa rằng “Anh Thuần con đâu, lạy Chúa?”. Tôi chỉ biết ngậm ngùi lần hạt để cầu nguyện cho anh thay nỗi nhớ và sự hụt hẫng của tôi lúc này. Đến 5h15, tiếng chuông đọc kinh sáng vang lên, mọi người cùng đứng. Lời kinh bắt đầu được đọc với những Thánh thi, Thánh ca rất quen thuộc. Nhưng tôi không biết tại sao, tôi không đọc nổi. Chắc có lẽ, lúc đó, tôi sợ rằng tôi không cầm được nước mắt để chuẩn bị Thánh lễ cầu nguyện cho anh thật sốt sắng. Nhưng tôi vẫn mấp máy đọc cùng các thầy, dù câu được câu không, và nhờ anh em đọc hộ phần tôi, còn tôi, tôi muốn thinh lặng lúc này.

Bước vào Thánh lễ, tôi thú thật rằng tôi không nhớ các bài hát nào đã được vang lên, vì tôi chỉ muốn nhìn lên bàn thờ và cây Thập Giá ở giữa nhà nguyện. Một lần nữa, tôi suýt rơi nước mắt khi cha chủ tế mời gọi gia đình ĐCV hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn thầy Phêrô theo ý xin của anh em chủng sinh TGP. Hà Nội. Nhưng may sao, tôi lại nghĩ rằng “chắc anh được Chúa thương nhiều lắm nên anh mới luôn vui vẻ và bình an để dâng hiến cho Chúa như vậy”. Suy nghĩ ấy giúp những giọt nước mắt của tôi không trào ra để tôi tiếp tục Thánh lễ. Những nỗ lực gượng lên của tôi chẳng được bao lâu, sau bài giảng, khi bài hát dâng lễ cất lên, cùng với việc cha chủ tế dâng bánh và rượu, tôi thầm dâng cuộc đời, những hy sinh, những cố gắng, những đau đớn bệnh tật của anh lên Thiên Chúa thì dòng lệ của tôi không chảy ngược được nữa và nó cứ tự nhiên dâng tràn khóe mắt tôi, và từ từ nhỏ xuống. Tôi nghẹn lòng nuốt nó vào trong để tôi tiếp tục cầu nguyện cho anh nữa chứ! Và rồi, tôi cũng làm được. Khi tôi lên Rước lễ, tôi đã nói với Chúa Giêsu Thánh Thể rằng “lạy Chúa, con không rước Chúa cho một mình con đâu, nhưng còn anh con nữa đấy, Chúa không được để anh con thiệt thòi đâu đó”. Lời cầu nguyện ấy đã an ủi tôi phần nào và tôi tiếp tục quỳ cho đến lúc cha chủ tế đứng lên đọc lời nguyện Hiệp lễ.

Sau Thánh lễ, tôi tiếp tục nhớ tới anh trong lời cầu nguyện và tôi đã thưa với Chúa rằng “lạy Chúa, con chỉ biết cầu nguyện cho anh thôi, còn đâu, Chúa phải lo cho anh con đó nhé!”.

Sau giờ cầu nguyện sáng, tôi trở về phòng. Khi tôi bật điện và bắt cầu cởi áo chùng thâm, chiếc khăn tang mà tôi đeo những ngày qua nó ở trước mặt tôi. Tôi vẫn để nó ở trên chiếc ghế của tôi, vì tôi sẽ mang nó theo như một món quà cuối cùng mà anh có thể tặng tôi ngày hôm đó. Vì tôi hiểu rằng, nếu anh ấy biết sẽ phải rời xa tôi thì tôi và anh sẽ tặng nhau những món quà kỉ niệm trước lúc rời xa. Và, anh tặng tôi chiến khăn tang; còn tôi, tôi tặng anh những dòng nước mắt và chiếc cổ côn đặt trên quan tài của anh trước khi ngôi mộ được lấp kín. Hai món quà đều màu trắng. Nó nói lên tất cả những gì đẹp nhất và tinh tuyền nhất mà anh và tôi đã dành cho nhau. Tôi mang theo chiếc khăn tang để tôi luôn nhớ rằng anh là một phần rất lớn trong cuộc đời tôi. Còn anh, anh mang theo chiếc cổ côn. Đó là hình ảnh của ơn gọi tu trì mà anh và tôi đã cùng nhau bước đi trong suốt 11 năm qua. Và để anh nhớ rằng, anh đã hoàn thành ơn gọi đời anh, còn em thì cần anh cầu nguyện thêm để có thể tiếp tục hành trình ấy. Dẫu rằng, anh sẽ không còn hẹn em đi chơi, đi ăn, đi mua đồ hay những lúc đau ốm đi khám bệnh. Giờ đây, chiếc khăn ấy nhắc tôi thêm rằng tôi cần phải tiếp tục sống ơn gọi này, không chỉ cho tôi, mà còn cho anh nữa. Tôi cần biết tự chăm sóc bản thân hơn vì tôi sẽ không còn được gọi “Anh Thuần ơi, đi khám bệnh với em” hay “Chúa Nhật này anh rảnh không, đi chơi với em, em có chuyện muốn nói”. Thậm chí, cái hẹn về thăm ông bà cố cùng anh và lấy xe cùng anh còn dang dở…

Tạ ơn Chúa đã ban cho anh em tôi được gặp nhau trong suốt 11 năm hành trình ơn gọi và được ở cùng nhau cho đến những giây phút cuối cùng của anh. Biết bao những kỉ niệm đẹp của những câu chuyện tâm sự mà không phải ai cũng có thể nghe; của những chuyến đi mà chỉ đơn giản là anh và tôi cùng nhau bước; của những biến cố trong cuộc sống mà có lẽ, tôi và anh biết là đủ. Giờ này, chỉ còn mình tôi viết lại những dòng nhật ký và gửi gắm nó lên Thiên Chúa để cầu nguyện cho anh thay cho những thương nhớ của tôi dành cho anh và cho những gì còn dang dở…

Em Nô